QUẢN LÝ DỊCH HẠI NGÔ PHẦN 1

PHẦN 1. SÂU HẠI NGÔ:

1 – Sâu xám – Agrotis ipsilon Rott

Tên khoa học: Agrotis ipsilon Rott
Đặc điểm gây hại 
Sâu xám là loại sâu đa thực, chúng không chỉ hại nặng trên ngô mà còn hại cả đậu tương. Bướm trưởng thành đẻ trứng trên lá cây,  thân cây, hoặc trên cây cỏ trên mặt đất. Sâu non tuổi nhỏ sống ở trên lá, tuổi lớn ban ngày ẩn nấp dưới mặt đất, ban đêm chui lên phá hại. Sâu non hoá nhộng trong đất.
Sâu xám thường hại ngô ở tất cả các vùng vào giai đoạn cây con. Ở các tỉnh phía Bắc sâu xám hại nặng trên ngô trồng trong vụ đông xuân và vụ xuân. Ngô đông xuân gieo sớm đầu tháng 10 – giữa tháng 10 bị hại nhẹ hơn so với ngô gieo vào cuối tháng 10 – giữa tháng 11. Sâu thường gây hại vào ban đêm, sâu tuổi 1- 3 ăn lá ngô non hoặc gặm xung quanh thân ngô. Tuổi 4 trở đi sâu phá mạnh, cắn đứt ngang thân ngô non kéo  xuống đất. Sâu tuổi 6 mỗi đêm có thể cắn đứt 3 – 4 cây ngô non. Khi cây ngô có 7 – 8 lá, thân cây đã cứng, sâu th­ường đục vào thân gần sát gốc ăn phần non mềm ở giữa làm thân cây ngô bị héo và chết. Ruộng ngô bị sâu xám gây hại trông mất khoảng lỗ chỗ, mật độ cây giảm, thiệt hại về năng suất. Sâu xám thường hại nặng trên ngô trồng trên đất cát pha và đất thịt nhẹ.
Đặc điểm hình thái 
Trứng hình cầu dẹt, lúc mới đẻ có màu trắng sữa, khi gần nở có màu tím sẫm. Sâu non màu xám hay đen bóng, đầu màu nâu sẫm, dài 37 – 47 mm. Nhộng màu cánh gián, dài18 – 24 mm. Bướm   màu nâu tối, thân dài 16 – 23mm, cánh trước màu xám có 6 chấm, giữa cánh có vân hình quả thận, hình tròn, hình gậy.

Biện pháp phòng trừ– Cày đất phơi ải để tiêu diệt trứng và nhộng.- Làm đất kỹ, sạch cỏ trước khi trồng, làm sạch cỏ quanh bờ để hạn chế nguồn ký chủ phụ của sâu.
– Bắt sâu bằng tay vào buổi sáng sớm hay chiều tối bằng cách bới đất quanh gốc  cây bị sâu cắn để bắt sâu.
– Bẫy bướm trưởng thành bằng bả chua ngọt ( ở các tỉnh miền Bắc  thường từ cuối tháng 2 đến giữa tháng 3 và từ cuối tháng 9 đến giữa tháng 10). Mỗi ha đặt 3 bẫy , mỗi bẫy cách nhau 400 – 500m.
Cách làm bẫy bả chua ngọt: 4 phần đường + 4 phần dấm + 1 phần rượu + 1 phần nước. Cho vào trong bình đậy kín sau 3 – 4 ngày khi thấy mùi chua ngọt thì thêm vào 1%  thuốc trừ sâu. Quấn giẻ hay bùi nhùi rơm rạ vào đầu gậy nhúng vào bả cắm trên bờ ruộng. Sau 2 – 3 ngày nhúng lại 1 lần. Bướm trưởng thành sẽ bay vào ăn bả chua ngọt và bị chết.
2 – Sâu xanh – Helicoverpa armigera Hubner
Tên khoa học: Helicoverpa armigera Hubner
Đặc điểm gây hại: 
Sâu xanh cũng là một loại sâu đa thực, có phổ ký chủ tương đối rộng, hại ngô và một số loại cây màu. Sâu xanh gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng của cây ngô. Khi cây ngô còn non, sâu ăn các bộ phận non của ngô như ngọn, lá non làm thủng lá, làm cây ngô sinh truởng chậm.  Lúc ngô trỗ cờ sâu đục vào lá bao cờ, gây hại cho bao phấn, bông cờ. Khi cây có bắp, sâu ăn hạt non hoặc đục vào trong bắp. Chất thải do sâu non bài tiết làm kết dính lá bao cờ, cản trở việc trổ cờ và tung phấn. Trên cây ngô, sâu non cắn phá râu ngô, làm giảm tỉ lệ đậu hạt. Nhiều khi sâu còn đục và ăn phần đầu bắp ngô, gây thối bắp ngô khi gặp mưa.
Đặc điểm hình thái:
Trứng hình cầu dẹt. Sâu non hình ống, đẫy sức có thể dài tới 35 – 50mm, có nhiều màu khác nhau.Trên mỗi đốt  thân sâu non có 4 u lông xếp thành hình thang. Sâu non hoá nhộng trong đất. Nhộng màu nâu, dài khoảng 17 -20 mm. Bướm trưởng thành  màu vàng nâu hay vàng nhạt, dài khoảng 15 – 17mm,.
Biện pháp phòng trừ :
– Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ quanh bờ để hạn chế nguồn ký chủ phụ của sâu.
– Cày bừa phơi ải, làm đất kỹ trước khi gieo hạt để tiêu diệt nhộng sâu xanh trong đất.
– Khi phát hiện sâu xanh, có thể phun phòng lúc ngô 3-4 lá, 7-9 lá và trước trỗ cờ 5-7 ngày.
– Dùng ong mắt đỏ Trichogramma để diệt sâu non
– Dùng các loại thuốc trừ sâu sinh học như NPV, Bt, VBt  phun khi sâu mới nở phun để trừ sâu non.
– Có thể phun các loại thuốc hóa học như Cartap 95 SP, Etofenprox, Sherpa 10 EC hoặc Supracide 40 EC …để trừ sâu xanh. Liều lượng phun theo chỉ dẫn ghi trên nhãn thuốc.

3 – Sâu đục thân ngô –Ostrinia nubilalis Hubner

Tên khoa học: Ostrinia nubilalis Hubner
Đặc điểm gây hại 
Bướm trưởng thành sống ẩn nấp trong bẹ lá, đẻ trứng trên lá, sâu non nở  ra ăn thủng lá nõn, hay  ăn vào bao cờ, cuống cờ làm cờ gãy gục, hoa phấn khô héo, không tung phấn được. Sâu từ tuổi 3 trở lên đục phá vào thân làm cây chậm phát triển, thậm chí ngừng phát triển. Khi cây lớn, sâu đục trong thân để lại phân ở đường đục. Thân ngô bị đục ít khi chết. Nếu gặp gió to có thể bị gẫy ngang. Bắp bị sâu đục lúc còn nhỏ bị gẫy non, không lớn lên  được. Bắp ngô non có thể bị đục từ cuống bắp vào thân bắp, nếu bắp đã cứng thì sâu đục từ đầu bắp đến giữa bắp.
Sâu xuất hiện quanh năm nhưng phá hại mạnh nhất ở giai đoạn trỗ cờ phun râu, đóng bắp. Ở các tỉnh phía Bắc, vụ đông xuân thường có 3 lứa. Vùng trồng liên tiếp nhiều vụ có 7 – 8 lứa/năm. Từ lứa thứ 4 sâu phá hại ngô hè và ngô vụ thu.
Đặc điểm hình thái
Trứng đẻ thành ổ xếp dạng vẩy cá. Trứng hình bầu dục dẹt, mới đẻ màu trắng sữa, trên mặt trơn bóng, sau có một chấm đen rõ dần lên. Sâu non  màu nâu vàng, có những vạch nâu mờ chạy dọc trên lưng từ đầu đến cuối mình sâu.  Nhộng cái lớn hơn nhộng đực. Bướm trưởng thành thân dài, cánh trước màu vàng tươi đến vàng nhạt, có 2 đường vân màu thẫm chạy trên cánh theo hình gấp khúc. Mép trước và mép ngoài màu đậm hơn giữa cánh trở về mép sau. Cánh sau có màu sáng hơn và các đường vân màu nhạt hơn cánh trước.
Biện pháp phòng trừ
– Chọn và trồng giống ngô chống chịu sâu đục thân.
– Luân canh cây trồng để tránh sâu tồn tại từ vụ này sang vụ khác.
– Vệ sinh đồng ruộng, diệt sạch cỏ sau khi thu hoạch, cày ải sau khi thu hoạch ngô vụ thu để giết sâu non và nhộng.
– Gieo trồng đúng thời vụ. Không trồng rải rác tạo nguồn thức ăn cho sâu tồn tại từ vụ này sang vụ khác.
– Bắt sâu bằng tay, ngắt ổ trứng.
– Bảo vệ và lợi dụng ong ký sinh, quan trọng nhất là ong mắt đỏ ký sinh trứng Trichogramma.
– Dùng các loại thuốc Padan 95SP, Regent 800WG hoặc thuốc Basudin …. để phun hoặc rắc vào gốc cây ngô khi cần thiết.

 4 – Sâu cắn lá ngô- Mythimna loreyi Duponchel

Tên khoa học: Mythimna loreyi  Duponchel

Đặc điểm gây hạiSâu phá hại nặng nhất ở các vùng đất bãi ven sông. Sâu non tuổi nhỏ cắn phá phần non như nõn ngô, hoa đực. Sâu tuổi lớn gặm khuyết phiến lá, ăn trụi phần thân non tới đỉnh sinh trưởng. Sâu có thể ăn hết phần thân ngô non trên mặt đất. Khi ngô trỗ cờ, sâu phá hại lá, chui vào bắp ăn hạt non, râu ngô làm tỷ lệ kết hạt ở bắp giảm đi. Sâu non từ khi nở đến khi hoá nhộng không rời cây ngô, nhưng khi thành dịch thì sâu có thể tràn từ ruộng này sang ruộng khác để phá hại. Sâu non hoạt động ban đêm, ban ngày ẩn nấp trong nõn ngô, bẹ lá hoặc chui xuống đất ở gần gốc.
Sâu cắn lá ngô có  7 – 8 lứa 1 năm. Hàng năm sâu xuất hiện trên ngô sớm vào tháng 10 – 11, gây hại vào tháng 1 – 2, phá hại mạnh nhất trong khoảng từ tiểu hàn đến vũ thuỷ. Sâu phá hại mạnh trà ngô đông xuân gieo muộn trong tháng 12 (5 – 8 lá). Từ đầu tháng 3 mật độ sâu giảm dần. Mùa hè và mùa thu, sâu thường chỉ tồn tại lẻ tẻ. Những năm có mùa đông mưa ẩm sâu phát sinh nhiều.

 

Đặc điểm hình tháiTrứng hình cầu, đẻ thành ổ xếp với nhau như dạng vẩy cá. Trứng mới đẻ màu trắng sữa, sau chuyển sang màu nâu. Sâu non màu nâu nhạt, đầu màu nâu vàng, có vân mạng lưới không theo quy luật. Trên lưng dọc theo cơ thể có 4 vạch nâu thẫm. Khi cây ngô còn nhỏ sâu thường hoá nhộng trong đất ở độ sâu 2- 5 cm, khi cây ngô đã trỗ cờ thì sâu hoá nhộng ngay trên bẹ lá, lá bi hoặc trong bắp. Nhộng dài 18 – 19mm, màu cánh gián nhạt hoặc sẫm. Bướm trưởng thành thân dài 14 – 18mm, sải cánh 25 – 30mm. Đầu ngực màu nâu tro. Cánh trước nâu nhạt hoặc nâu vàng. Cánh sau màu trắng, mạch cánh và mép ngoài màu nâu.

 

Biện pháp phòng trừ
– Luân canh cây trồng để tránh sâu tồn tại từ vụ này sang vụ khác.
– Vệ sinh đồng ruộng, diệt sạch cỏ sau khi thu hoạch. Làm sạch cỏ trong ruộng và quanh bờ để hạn chế nơi trú ngụ của sâu.
– Gieo trồng đúng thời vụ. Không trồng rải rác tạo nguồn thức ăn cho sâu tồn tại từ vụ này sang vụ khác.
– Bắt sâu bằng tay, ngắt ổ trứng.
Bẫy diệt bướm trưởng thành bằng mồi bả chua ngọt vào tháng 12 đến đầu tháng 2.
Dùng thuốc vị độc, tiếp xúc hoặc thuốc lưu dẫn trong cây như  Basa 50EC, Padan 95SP, Ababetter 1.8 EC, 3.6EC, 5EC,  Regent   1.8EC, 2WG, 3.6EC, 5EC, 5WG….Phun theo hướng dẫn ghi trên nhãn thuốc

5 – Châu chấu hại ngô

Đặc điểm gây hại
Có rất nhiều loại  châu chấu gây hại ngô như châu chấu lúa, châu chấu sống lưng vàng, châu chấu ngô, châu chấu mía…. Châu chấu di chuyển thành đàn, cả trưởng thành và châu chấu non đều gây hại, chúng gặm cả lá non và lá già, làm khuyết từng mảng hoặc thủng lá, lá bị hại nặng còn trơ lại gân lá. Khi di chuyển thành đàn lớn chúng gây thành dịch, có thể phá hại toàn bộ ruộng ngô hoặc cả vùng. Châu chấu xuất hiện quanh năm và cũng tùy thuộc vào số lượng mà có thể gây tác hại lớn hay nhỏ. Chúng hoạt động mạnh vào  lúc trời mát mẻ thường từ 7 – 10 giờ sáng và 3 – 5 giờ chiều.

\

6 – Sâu gai Dactylispa sp.

Tên khoa học: Dactylispa sp.

Đặc điểm gây hại
Sâu non đục vào giữa 2 lớp biểu bì và ăn chất xanh, làm giảm diện tích quang hợp của lá ảnh h­ưởng tới năng suất cây ngô. Sâu trư­ởng thành gặm ăn mô  của lá tạo thành những đường thẳng ngắn theo chiều dọc lá. Khi sâu trư­ởng thành xuất hiện mật độ cao thì vết ăn của chúng sát liền nhau, lá ngô chỉ còn trơ lại lớp biểu bì bạc trắng.
Khoảng giữa tháng 3 đến cuối tháng 3 khi ngô xuân đã mọc và ở giai đoạn 2 – 3 lá trư­ởng thành sâu gai di chuyển từ cỏ dại lên ngô. Sau đó, chúng đẻ trứng và tồn tại ở đó cho đến cuối vụ ngô xuân. Những năm nhiệt độ thấp thì thời gian phát sinh sâu gai muộn. Mật độ sâu gai trên ngô vụ sớm cao hơn trên ngô vụ muộn.

Đặc điểm hình thái
Trứng được đẻ thành ổ từ 1 – 3 quả  trong mô lá ngô. Sâu non  màu trắng đục, đầu màu nâu nhạt. Cơ thể dẹt, hình ô van dài. Sâu non đẫy sức hoá nhộng ngay trong vết hại trên lá ngô. Nhộng  màu nâu cánh gián, hình ovan dài, phía đầu hẹp, phía sau nở rộng hơn. Trư­ởng thành dài khoảng 55 -60 mm, đầu màu vàng nhạt đến vàng nâu. Hai mắt kép to đen nằm ở hai bên đầu. Cánh cứng, màu xanh đen bóng. Mặt lưng cánh cứng và mép bên có nhiều gai màu xanh đen  Mặt bụng, chân  có màu vàng nâu.

Biện pháp phòng trừ
Ở những vùng bị hại nặng điều chỉnh thời vụ từ thời vụ sớm sang thời vụ muộn.
Trồng sớm một diện tích nhỏ để làm bẫy dẫn dụ tr­ưởng thành sâu gai đến hại và dùng thuốc hoá học phun diệt sâu.
Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ dại là chỗ trú ngụ của sâu gai trong mùa không có ngô.
Bắt sâu bằng tay khi chúng xuất hiện đẻ trứng trên ngô xuân. Khi mật độ trứng cao có thể tiến hành ngắt phần ngọn lá ngô có nhiều trứng đem tiêu hủy.
Theo dõi đồng ruộng, khi phát hiện thấy sâu gai đẻ trứng rộ vào lúc ngô 4 – 5 lá thì dùng các loại thuốc trừ sâu tiếp xúc hoặc nội hấp như Basa 50EC, Padan 95SP, Ababetter 1.8 EC, 3.6EC, 5EC,  Reasgant   1.8EC, 2WG, 3.6EC, 5EC, 5WG, Ofatox 40EC ….Phun theo hướng dẫn ghi trên nhãn thuốc. Phun vào buổi sáng hoặc chiều tối khi trư­ởng thành sâu gai ít hoạt động.

7 – Rệp hại ngô: Aphis maydis Fitch

Tên khoa học:  Aphis maydis Fitch. và  Rhopalosiphum maydis

Đặc điểm gây hại
Rệp ngô là một trong những loại sâu hại quan trọng. Chúng thường gây hại từ khi cây ngô 8, 9 lá đến khi thu hoạch. Rệp bám trên lá, trong nõn, bẹ lá, lá bi, hoa cờ v.v… chích hút nhựa các bộ phận làm cho cây còi cọc, bắp nhỏ, năng suất và chất lượng ngô giảm. Rệp phát triển nhanh và gây hại mạnh khi nguồn thức ăn đầy đủ, nhất là những ruộng ngô gieo dày, ẩm độ không khí trong ruộng cao hoặc ruộng ngô bị hạn.
Rệp ngô còn là môi giới truyền virut gây bệnh khảm lá, đốm lá ngô.

Đặc điểm hình thái
Rệp ngô sinh sản theo lối đơn tính và đẻ con. Trong quần thể rệp thường thấy nhiều loại hình: Rệp cái không cánh, rệp cái có cánh và rệp con.
Rệp trưởng thành có hai loại hình, rệp có cánh và rệp không cánh dài 1,5 – 2,3 mm, màu vàng nhạt hoặc xanh xám, cơ thể hình bầu dục, thân mềm. Chân và tuyến tiết sáp ngắn, màu xanh đen. Rệp cái có cánh có đầu, ngực màu đen và bụng màu xanh.
Rệp non màu xanh sáng, chân và tuyến tiết sáp giống như trưởng thành có màu đen. Rệp non trải qua 7 – 10 lần lột xác mới thành rệp trưởng thành.
Một năm có từ 7 – 10 lứa. Rệp là loài ưa ẩm, xuất hiện trên đồng ruộng vào khoảng tháng 10, 11 phát triển nhiều trong tháng 1, tháng 2 lúc ẩm độ không khí cao. Từ tháng 4 trở đi số lượng rệp giảm dần. Trong mùa hè chỉ thấy rệp xuất hiện lẻ tẻ. Những ruộng gieo dầy, ẩm độ không khí cao rệp phát triển mạnh. Thiên địch của rệp là một số loài bọ rùa và ấu trùng ruồi Sirphus sp.

Biện pháp phòng trừ 
– Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ trong ruộng và xung quanh bờ để không bị rệp bay sang phá hại từ các ký chủ phụ. Không nên trồng ngô mật độ quá dầy, khi cây ngô cao 25 – 30 cm thì tiến hành tỉa định cây, loại bỏ những cây gầy yếu cho ruộng thông thoáng hạn chế rệp phát triển.
– Biện pháp sinh học: Bảo vệ các loài thiên địch trên ruộng ngô.
– Biện pháp hóa học: Khi mật độ rệp cao dùng các loại thuốc vị độc, tiếp xúc, thuốc lưu dẫn như Sherpa 25EC, Trebon 10EC, Sherzol 50EC, Reasgant 1.8EC, 2WG, 3.6EC, 5EC, 5WG, Confitin 18 EC, 36EC, Emalusa 10.2EC, 20.5EC, 50.5WSG… Phun theo hướng dẫn ghi trên nhãn thuốc. Chú ý thời gian các ly đối với ngô ngọt, ngô rau bao tử và ngô thu bắp non trước khi thu hoạch 15 –  20 ngày để tránh ngộ độc thực phẩm cho người và gia súc.

8 – Mọt hại ngô- Sitophilus zeamais Motsch.

Tên khoa học:  Sitophilus zeamais Motsch.
Đặc điểm gây hại
Mọt ngô là loại đa thực, chúng có thể ăn được hầu hết các loại ngũ cốc, các loại đậu, hạt có dầu và nhiều sản phẩm thực vật khác. Thức ăn thích hợp nhất với nó là ngô hạt.
Mọt gây hại trên bắp và hạt ngô ngay giai đoạn ngô chín sáp ngoài đồng, chúng theo ngô vào kho và gây hại liên tục trong suốt quá trình bảo quản. Mọt trưởng thành dùng vòi khoét một lỗ sâu vào hạt, rồi đẻ trứng ở đó rồi tiết ra một thứ dịch nhầy để bít kín lỗ đó lại. Sâu non nở ra trong hạt,  nó thường ăn phôi trước, sau đó mới đến nội nhũ và các bộ phận khác làm hạt chỉ còn lại một lớp vỏ mỏng, nhìn bề ngoài dễ lẫn với hạt còn nguyên vẹn. Khi đẫy sức, sâu non đục những lỗ nhỏ lộ rõ trên mặt hạt để vũ hoá bay ra ngoài. Trong kho mọt hoạt động nhanh nhẹn, hay bay bò và có tính giả chết, chúng thích bò lên các vị trí cao trong đống hạt. Khi gặp điều kiện độ nhiệt cao, mọt thường tập trung vào kẽ kho, mép bao… để ẩn nấp.

Sâu non thân màu trắng sữa, đầu màu nâu nhạt, sâu non ăn hạt ngô và hoá nhộng ở ngay trong hạt. Nhộng hình bầu dục, cân đối hai đầu,  dài 3 – 4 mm, lúc đầu màu vàng sữa, sau chuyển thành màu vàng nâu.
Biện pháp phòng trừ
Phân loại và làm sạch ngô trước khi bảo quản, cất trữ. Bảo quản trong nhiệt độ cao (sấy) và nhiệt độ thấp (dưới 150C).
Xử lý hạt với bột hạt xoan, bột lá xoan hoặc thuốc thảo mộc trừ mọt Gu Chong Jing 25NP, an toàn với người và động vật. Thuốc Gu Chong Jing 25NP sử dụng theo  tỷ lệ 0,4%. Gói thuốc 200g xử lý cho 500 kg ngô hạt, trộng đều với hạt hoặc theo lớp đựng trong bao kín.