QUẢN LÝ DỊCH HẠI NGÔ PHẦN 2

PHẦN 2: CÁC BỆNH HẠI TRÊN NGÔ

1, Bệnh hại hạt:

Trong thời gian bảo quản trên bắp và hạt ngô thường bị một số loại nấm xâm nhập và gây hại.  Nấm phá hủy dinh dưỡng trên hạt, có thể làm chết phôi hạt, làm hạt mất sức nảy mầm. Các loại nấm gây hại này thường là những loại nấm gây hại cả trên hạt và cả trong giai đoạn nảy mầm của ngô.
Các bệnh trên hạt thường liên quan  các loại bệnh hại trên đồng ruộng trước khi thu hoạch, chúng tồn tại trên hạt từ đồng ruộng về kho bảo quản, do vậy các yếu tố như thời gian thu hoạch, biện pháp phơi sấy trước khi đưa vào kho cũng rất quan trọng. Thu hoạch ngô quá sớm hay quá muộn, thu trong ngày ẩm ướt và điều kiện bảo quản nhiệt độ quá cao, ẩm độ của hạt lớn cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của các bệnh trên hạt trong thời kỳ bảo quản.
a. Bệnh mốc xanh hạt và mầm ngô
Tên khoa học: Penicillium spp.
Bệnh thường gây hại trong thời gian bảo quản. Trên bắp, hạt ngô xuất hiện những lớp mốc màu xanh. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao. Mầm ngô bị bệnh do nấmPenicillium thường xuất hiện những vết chết hoại trên ngọn lá. Vết chết hoại này lan dần tạo thành những sọc hay vùng chết hoại rộng trên lá. Mầm ngô bị nhiễm nấm Penicillium thường bị chết hay còi cọc và có màu vàng.


 

e. Biện pháp phòng trừ các bệnh hại hạt:

Bệnh hại hạt ngô liên quan đến nguồn bệnh ngoài đồng ruộng, do vậy ngay từ khi gieo trồng đã phải chú ý, gieo trồng đúng thời vụ, chăm sóc tốt để ngô sinh trưởng đều, chín tập trung. Cần thu hoạch nhanh gọn kịp thời không để ngô chín tồn tại lâu trên đồng ruộng. Thu hoạch vào ngày nắng ráo, loại bỏ những bắp  bị bệnh ngay trong khi thu hoạch. Sau khi thu hoạch về thực heenj tốt các biện pháp bảo quản cất trữ.

Bảo quản ngô bắp ở hộ gia đình:

Sau khi thu hoạch ngô từ ruộng về không nên đổ đống vì ngô tươi có độ ẩm cao dễ bị thối mốc.  Xếp các bắp ngô đã phơi khô thành từng cũi, cuống bắp quay ra ngoài. Lộn trái một lớp bẹ ngô bên ngoài và buộc thành từng túm 10-15 bắp. Treo túm ngô lên sàn nhà, giàn bếp để bảo quản ngô gối vụ. Ngô để trên giàn bếp sẽ được hơi nóng của bếp đun hàng ngày, bắp ngô luôn khô và được khói bếp phủ một lớp muội đắng, có tác dụng hạn chế mọt, mốc phá hoại.
Cũng có thể hong bắp ngô trên giàn bếp 1-2 tháng cho bám muội, sau đó xếp cũi ngô trong các nhà chòi làm ở nơi cao ráo, thoáng đãng và có phễu ngăn chuột trên các chân cột. Nhà kho chòi này đảm bảo chống chim, chuột, sâu mọt phá hoại, hạn chế tổn thất mà các biện pháp khác không làm được.

Bảo quản ngô hạt ở hộ gia đình:

Phơi hạt ngô thât khô kiệt, đảm bảo độ ẩm dưới 14%,  có thể kiểm tra bằng cách cắn hay đập thấy vỡ vụn thành các mảnh sắc cạnh, loại bỏ sạch tạp chất và các loại hạt non, hạt lép.
Trộn lá xoan, lá cơi, lá trúc đào khô vào ngô theo tỉ lệ 1-1,5 kg lá khô cho 100kg ngô hạt. Khi sử dụng ngô, phải sàng, sảy sạch các loại lá trên sẽ không còn gây độc hại cho người và gia súc.
Đổ ngô đã trộn lá vào chum, vại sành, thùng kim loại hay thùng gỗ, san phẳng và phủ lên trên mặt một lớp tro bếp khô dày 2-4 cm. Bịt miệng bằng giấy xi măng hay tấm ni lông và đậy kín.

Bảo quản ngô hạt trong kho:

Hạt bắp phải được phơi thật khô. Loại bỏ tạp chất và những hạt sâu mọt. Vệ sinh sạch sẽ kho cất trữ, phun thuốc khử trùng, lót một lớp trấu khô, trong đống trấu thỉnh thoảng để các bọc thuốc Basudin 10H nhỏ  (khoảng 50 – 100gr/bọc).
Cũng có thể cho hạt ngô vào các bao tải (bao phải được phơi khô, sạch sẽ). Bao tải được xếp theo khối hẹp, chạy dài, chiều rộng 3 –4 bao, chiều cao không quá 10 bao. Giữa các khối có chừa lối đi để kiểm tra dễ dàng. Thường xuyên kiểm tra kho, nếu  phát hiện thấy hạt chớm phát sinh nấm bệnh thì cần đem phơi nắng ngay.

2- Bệnh thối thân do vi khuẩn

Tên khoa học: Erwinia carotovora

Triệu chứng bệnh

Bệnh thường biểu hiện vào giữa mùa khi thấy cây bị đổ một cách nhanh chóng. Ban đầu trên các đốt gần mặt đất thường xuất hiện những đốm nâu dạng ngậm nước, mềm hay nhớt. Các mô trên thân ngô có dạng ngậm nước và có mùi hôi. Lá bị héo và thối nhũn.

Nguyên nhân bệnh

Bệnh do vi khuẩn Erwinia carotovora gây ra.Vi khuẩn xâm nhập vào câyqua các lỗ hở như khí khổng, qua vết thương cơ giới do xây xát hoặc do côn trùng chích hút…Vi khuẩn tồn tại trong tàn dư cây bệnh, trong đất trở thành nguồn bệnh cho vụ sau. Chúng truyền lan từ cây này sang cây khác hoặc vùng này qua vùng khác nhờ  gió, nước, động vật hoặc côn trùng. Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ  và ẩm độ cao, thích hợp nhất từ 32 – 350C. Ruộng ngô trồng dày, không thông thoáng, ẩm độ cao là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển. Các giống ngô lai thường bị nhiễm bệnh hơn các giống ngô thuần.

Biện pháp phòng trừ

Ở các vùng thường xuyên bị hại nặng nên trồng các giống ngô  có khả năng chống chịu. Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư cây bệnh đem tiêu hủy. Không gieo ngô quá sâu, tạo độ thoát nước cho ruộng ngô. Luân canh với lúa và một số cây trồng khác không phải là ký chủ của vi khuẩn. Phun thuốc Bactocide 12 WP khi bệnh chớm xuất hiện cũng có khả năng hạn chế bệnh.

3- Bệnh khô vằn:

Tên khoa học: Rhizoctonia solani Kuhn

Triệu chứng bệnh

Bệnh gây hại ở khắp các vùng trồng ngô.Nấm bệnh có thể gây hại cho ngô từ khi mới nảy mầm đến khi thu hoạch. Mầm bị nhiễm bệnh, trên rễ mầm và thân mầm thường có những vết bệnh màu nâu. Ngô bị nhiễm bệnh trong giai đoạn mầm thường còi cọc và vàng. Song biểu hiện rõ và nặng của bệnh là ở giai đoạn cây ngô trỗ cờ đến làm hạt.
Trên lá, lá bao bị bệnh, ban đầu thường xuất hiện những đốm nhỏ dạng dội nước sôi, vết bệnh lớn dần không có hình dạng nhất định, xung quanh có viền xanh sẫm hay mầu nâu. Các vết bệnh có thể liên kết với nhau thành đám lớn dạng vằn da hổ. Vết bệnh trên phiến lá và lá bao cũng giống như vết bệnh trên bẹ lá. Khi trời ẩm ướt trên mặt vết bệnh phủ lớp sợi nấm màu trắng và nhữnh hạch nấm xốp khi còn non có màu trắng, khi già chuyển màu nâu. Hạch nấm là nguồn lây nhiễm của nấm bệnh. Bệnh làm giảm năng suất và cây bị bệnh nặng hạt ngô sẽ bị lép.

Nguyên nhân bệnh
Bệnh do nấm Rhizoctonia solani Kuhn gây ra. Hạch nấm tồn tại trong đất và tàn dư cây bệnh và hạt giống là nguồn lan truyền bệnh trên đồng ruộng.
Biện pháp phòng trừ
Không chọn những bắp bị bệnh để làm giống. Lựa chọn các giống có khả năng kháng bệnh để trồng. Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư cây bệnh. Cày ải hoặc ngâm dầm để diệt hạch nấm. Xử lý hạt giống bằng Rovrral (2g/ 10kg hạt). Khi ngô đã lớn làm sạch cỏ, bóc sạch bẹ và lá bị bệnh đem tiêu hủy để hạn chế bệnh và ruộng ngô thông thoáng. Dùng chế phẩm nấm đối khángTrichoderma ủ với phân chuồng bón cho ngô, lượng dùng 80 – 100 kg/ha (4 kg/ sào Bắc bộ). Phun trừ bệnh bằng thuốc Validamicin 3 SC, pha nồng độ 0,2-0,25%.
4- Bệnh bạch tạng:
Tên khoa học: Sclerospora maydis (Racib.) Butller
Triệu chứng bệnh

    Bệnh xuất hiện ngay từ khi cây hại khi còn non ở giai đoạn 3 – 8 lá. Ban đầu thường ở tầng lá giữa, sau đó lan lên các lá trên ngọn.  Vết bệnh là các vết sọc dài trên phiến lá, chạy dọc theo gân lá từ gốc lá lên ngọn lá, màu trắng nhợt, hoặc hơi vàng, phiến lá nhỏ. Cây bị bệnh kém phát triển hoặc phát triển không bình thường, còi cọc, lá nhỏ, không hình thành hạt hay hình thành những hạt dị hình. Bị bệnh nặng cây ngô không cho năng suất hoặc có thể chết.

 

 

Nguyên nhân bệnh
Bệnh do nấmSclerospora maydis (Racib.) Butller gây ra. Nấm có thể tồn tại trên hạt, lá mầm là nơi bị nhiễm bệnh đầu tiên. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết âm u ẩm ướt, nhiệt độ thấp hơn 240C.
Biện pháp phòng trừ
Sử dụng giống kháng bệnh, chỉ dùng hạt giống sạch bệnh, xử lý hạt giống bằng thuốc Rovrral (2g/ 10kg hạt). Luân canh với lúa hoặc một số cây trồng không phải là ký chủ của bệnh.
Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư cây bệnh đem tiêu hủy, tạo độ thông thoáng cho ruộng ngô. Khi xuất hiện cây bệnh, nhổ và tiêu huỷ ngay để tránh lây lan đồng thời có thể phun các thuốc như Ridomil MZ72, nồng độ 0,2%, thuốc Aliette 80WP nồng độ 0,2%  lên toàn bộ tán lá để trừ bệnh.
5 – Bệnh phấn đen:
Tên khoa học: Ustilago maydis (Dc.) Codra
Triệu chứng bệnh
Bệnh xuất hiện và gây hại ở hầu hết các vùng trồng ngô. Bệnh có thể  hại trên lá, thân, bông cờ và chủ yếu là trên bắp ngô. Đặc trưng điển hình của bệnh là tạo thành các u sưng.Lúc đầu vết bệnh chỉ sùi lên như một cái bọc nhỏ, sau đó phình to được bọc bởi một lớp bọc trắng, phớt hồng, dần chuyển sang màu tro.Bên trong là một khối rắn vàng trắng sau biến thành bột đen, đó là khối bào tử hậu. Bộ phận bị bệnh tạo thành những u sưng dị hình, thối hỏng làm giảm năng suất ngô đáng kể.

Nguyên nhân bệnh
Bệnh do nấm Ustilago maydis (Dc.) Codra gây ra. Nấm bệnh xâm nhập gây bệnh qua vết thương cơ giới do chăm sóc, vun xới hoặc mưa gió, do sâu bệnh cắn phá. Bệnh phát triển mạnh ở ruộng trồng dày và bón nhiều đạm vô cơ. Bào tử nấm bệnh tồn tại trên hạt giống và tàn dư cây bện là nguồn lây nhiễm cho vụ sau. Các giống ngô địa phương thường bị bệnh nặng.
Biện pháp phòng trừ
Không dùng ngô bị bệnh để làm giống, chỉ sử dụng hạt giống sạch bệnh.  Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng thuốc Thiram 85 WP, lượng 2-3 kg/tấn giống. Dùng các giống ngô chống chịu bệnh, Luân canh với lúa hoặc các cây đậu đỗ. Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư cây bệnh đem tiêu hủy. Phun các loại thuốc trừ bệnh như Thiram 85 WP, Tiptop 250 EC. Phun khi bắt đầu xuất hiện bệnh từ 1 – 5%.
6 -Bệnh sợi đen:
Tên khoa học: Sphacelotheca reiliana (Kuhn.) Clinton
Triệu chứng bệnh
Triệu chứng bệnh thường xuất hiện ở giai đoạn cây ngô trỗ cờ, ra bắp. Cả  bông cờ và bắp ngô đều bị hại. Bông cờ bị bệnh thường bị biến dạng, hoa không hình thành nhị, gốc hoa phình to, trong có chưá lớp phấn màu đen. Bắp ngô bị nhiễm bệnh phía trong lá bao hình thành các lớp phấn lúc đầu có màu xanh hay màu vàng. Lớp phấn phát triển, lá bao bị vỡ  để lộ ra một lớp phấn màu đen trong có chứa những sợi nấm đen.

Nguyên nhân bệnh
Bệnh sợi đen hại ngô do nấm Sphacelotheca reiliana (Kuhn.) Clinton  gây ra.Bệnh phát hiện thấy phổ biến ở các vùng núi cao thuộc các tỉnh phía Bắc nước ta như Lào Cai, Hà Giang, Sơn La…. Bệnh hại nặng từ tháng 5 – 9.  Hầu hết các giống ngô địa phương đều bị nhiễm bệnh. Bệnh lan truyền qua hạt giống và tàn dư cây bệnh.
Biện pháp phòng trừ 
Sử dụng giống có khả năng chống chịu. Không dùng hạt từ các ruộng ngô bị bệnh để làm giống. Xử lý hạt giống bằng thuốc Rovrral (2g/ 10kg hạt). Luân canh với các cây không phải là ký chủ của bệnh. Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sach tàn dư cây bệnh. Tạo độ thông thoáng cho ruộng ngô để hạn chế sự phát triển của bệnh.
7 – Bệnh đốm lá nhỏ:

Tên khoa học: Helminthosporium maydis Nisikado

Triệu chứng bệnh

Bệnh phổ biến ở khắp các vùng trồng ngô và trên tất cả các giống ngô địa phương, ngô lai. Bệnh gây hại từ khi cây có 2 – 3 lá cho đến hết thời kỳ sinh trưởng của cây. Vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ, sau có dạng hình thoi. Xung quanh vết bệnh có thể có những đường viền dạng ngậm nước, sau chuyển thành màu vàng. Giữa vết bệnh có màu trắng xám. Kích thước của vết bệnh thay đổi theo giống, có thể từ 2 – 6 x  3 -22 mm. Nhiều vết bệnh liên kết với nhau thành đám lớn làm tổn thương lá và giảm quang hợp ảnh hưởng đến năng suất ngô.

 

Nguyên nhân bệnh
Bệnh đốm lá nhỏ do nấm Helminthosporium maydis Nisikado gây ra. Bệnh thường gây hại nhiều ở những ruộng ngô xấu tức là  những ruộng không có sự đầu tư thâm canh làm cho cây còi cọc, xấu sinh trưởng kém, còi cọc, không phát triển được. Tàn dư cây bệnh trên đồng ruộng là nguồn lây nhiễm cho vụ sau.
Biện pháp phòng trừ

Sử dụng giống ngô có khả năng chống chịu bệnh, dùng hạt giống sạch bệnh. Xử lý hạt giống bằng Rovrral (2g/ 10kg hạt). Những vùng thường bị bệnh nặng nên luân canh với các cây không phải là ký chủ của bệnh. Chăm sóc tốt làm cho cây khỏe tăng cường khả năng chống bệnh. Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư cây bệnhđem tiêu hủy và tạo độ thông thoáng cho ruộng ngô. Phun các loại thuốc Tilt 250ND và Anvil 5SC nồng độ 0,1% để phòng trừ bệnh trên đồng ruộng.
8 – Bệnh đốm lá lớn:
Tên khoa học: Helminthosporium turcicum Pass
Triệu chứng bệnh 
Bệnh xuất hiện ở khắp các vùng trồng ngô. Triệu chứng bệnh có thể nhận thấy trên các bộ phận như bẹ lá, lá bao và rõ nhất ở trên lá. Bệnh thường xuất hiện lá già sát gốc trước, sau đó lan dần lên những lá trên. Ban đầu vết bệnh là vệt nhỏ, dạng ngậm nước, sau lớn dần có hình thoi, trung tâm vết bệnh có màu nâu sáng, xung quanh màu nâu tối. Vết bệnh lớn, kích thước từ 0,3 – 3 x 0,5 cm, đôi khi tới 20 cm. Trong điều kiện ẩm ướt trên bề mặt vết bệnh xuất hiện lớp mốc màu đen.  Vết bệnh phát triển rất nhanh tạo thành những đám lớn. Lá ngô bị bệnh nặng, nhiều vết liên kết với nhau làm cho cả phiến lá khô táp. Lá mất màu, héo khô và giòn, làm giảm quang hợp của cây ảnh hưởng tới năng suất.

Nguyên nhân bệnh 
Bệnh đốm lá lớn do nấm Helminthosporium turcicum Pass gây ra. Nấm bệnh xâm nhập vào lá qua lỗ khí khổng chủ yếu ở các bộ phận còn non trên cây. Những ruộng ngô xấu, ít được chăm sóc hoặc những ruộng thường xuyên bị thiếu nước…làm cho cây ngô sinh trưởng kém, còi cọc, không phát triển được là điều kiện thuận lợi để bệnh phát sinh phát triển. Các giống ngô địa phương bị bệnh nặng hơn các giống ngô lai. Tàn dư cây bệnh trên đồng ruộng là nguồn lây nhiễm cho vụ sau.
Biện pháp phòng trừ
Sử dụng giống ngô có khả năng chống chịu bệnh, dùng hạt giống sạch bệnh. Xử lý hạt giống bằng thuốc Rovrral (2g/ 10kg hạt). Luân canh trồng ngô với lúa và cây họ đậu. Chăm sóc tốt làm cho cây khỏe tăng cường khả năng chống bệnh. Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sach tàn dư cây bệnh đưa ra khỏi ruộng tiêu huỷ. Thường xuyên ngắt tỉa lá già, lá bệnh, tạo độ thông thoáng cho ruộng ngô. Phun các loại thuốc Tilt 250ND và Anvil 5SC nồng độ 0,1% để trừ bệnh.
9 – Bệnh rỉ sắt:

Tên khoa học: Puccinia sorghi Schw.

Triệu chứnh bệnh

 Bệnh gỉ sắt phổ biến ở khắp các vùng trồng ngô. Bệnh hại trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây, chủ yếu trên lá. Vết bệnh ban đầu là những chấm nhỏ màu vàng nhạt, sau đó lớn dần và liên kết với nhau tạo thành ổ chứa các bào tử màu vàng nâu (bào tử hạ), dần có màu nâu đen như gỉ sắt (bào tử đông). Bệnh nặng vết bệnh dày đặc làm lá bị khô cháy, bệnh lan sang cả thân,  bẹ lá và áo bắp.

 

Nguyên nhân bệnh

Bệnh gỉ sắt do nấm Puccinia sorghi Schw. gây ra. Trên cây ngô nấm bệnh chỉ thực hiện hai giai đoạn sinh trưởng là bào tử hạ và bào tử đông. Tuy nhiên sự truyền lan gây bệnh cho ngô chủ yếu là bào tử hạ. Chúng tồn tại trên tàn dư cây bệnh,  trên hạt tiếp tục lây nhiễm cho vụ sau. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết mát mẻ, ẩm độ cao hoặc có mưa. Các giống ngô địa phương và các giống ngô lai đều bị bệnh. Các giống ngô đường, ngô nếp mẫn cảm với bệnh.

Biện pháp phòng trừ

Sử dụng giống ngô có khả năng chống chịu bệnh, dùng hạt giống sạch bệnh. Xử lý hạt giống bằng thuốc Rovrral (2g/ 10kg hạt). Luân canh trồng ngô với lúa và cây họ đậu. Chăm sóc tốt làm cho cây khỏe tăng cường khả năng chống bệnh. Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sach tàn dư cây bệnh đưa ra khỏi ruộng tiêu huỷ. Thường xuyên ngắt tỉa lá già, lá bệnh, tạo độ thông thoáng cho ruộng ngô. Phun các loại thuốc Tilt 250ND và Anvil 5SC nồng độ 0,1% để trừ bệnh.