LÚA LAI

Phần I : Đặc điểm của lúa lai

1. Rễ

Rễ lúa lai phát triển sớm và mạnh. Khi có 3 lá thật, lúa Lai đã có 8- 12 rễ và có chiều dài lớn hơn rễ lúa thuần.Nhìn chung, Bộ rễ lúa lai phát triển sớm, đồng thời có kích thước lớn về số lượng, đường kính và chiều dài.

Sản xuất hạt lai F1

2. Nhánh

Lúa lai đẻ sớm và khoẻ. Khi có 7- 8 lá, số lượng nhánh có thể đạt 10- 12 nhánh. Tất cả các nhánh này đều có khả năng thành bông. Vì vậy, khi gieo cấy cần cấy thưa và cấy một dảnh/ khóm nhằm khai thác khả năng đẻ nhánh của lúa lai.

3. Bông

Do đẻ sớm và khoẻ, nên tỷ lệ bông hữu hiệu cao. Lúa lai là loại hình bông to, có số hạt/ bông lớn hơn 160 hạt, năng suất đạt 8- 10 tấn/ha/vụ.

4. Nhu cầu dinh dưỡng khoáng

  • Đạm: có 2 thời kỳ nhu cầu về đạm cao là đẻ nhánh và làm đòng.
  • Lân: Hàm lượng Lân cao nhất vào thời kỳ lúa đẻ rộ. Vì vậy, cần bón lân sớm vào bừa cấy cho lúa
  • Kali: Lúa lai có nhu cầu về Kali cao ở các thời kỳ đẻ nhánh, làm đòng và sau trỗ bông. Vì vậy, để có năng suất cao cần hết sức coi trọng bón Kali cho lúa lai.

5. Khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận của ngoại cảnh

Nhìn chung, Lúa lai có khả năng chống chịu tốt với rét, nóng và hạn

Phần II – Kỹ thuật sản xuất hạt lai F1 hệ 2 dòng

Các dòng bất dục đực sử dụng trong sản xuất hạt lai F1 hệ 2 dòng

Có 2 dòng bất dục đực cảm ứng với điều kiện môi trường là TGMS và PGMS.

  • Dòng bất dục đực cảm ứng với nhiệt độ TGMS, bất dục phấn khi gặp nhiệt độ > 270 C và hữu dục ở nhiệt độ < 240 C. ở Việt Nam chủ yếu sử dụng dòng này
  • Dòng bất dục đực cảm ứng với ánh sáng, PGMS bất dục phấn khi thời gian chiếu sáng dài > 14 giờ và hữu dục khi thời gian chiếu sáng ngắn < 13 giờ.

A. ĐIỀU KIỆN VÀ NHỮNG YẾU TỐ CẦN THIẾT ĐỐI VỚI SẢN XUẤT HẠT LAI F1 TỔ HỢP TH 3-3

I. Chọn ruộng

Yêu cầu đối với ruộng sản xuất hạt lai F1:

1.Cách ly nghiêm ngặt

Có thể áp dụng 1 trong 3 biện pháp cách ly sau đây:

  • Cách ly không gian: Ruộng sản xuất hạt lai F1 phải cách ly với ruộng lúa xung quanh ít nhất là 100m (tính từ mép ngoài ruộng sản xuất) trên tất cả các hướng.
  • Cách ly thời gian: Ruộng sản xuất F1 phải trỗ trước hoặc sau ruộng lúa xung quanh (trong phạm vi 100m tính từ mép ngoài) ít nhất là 20 ngày.
  • Cách ly bằng địa hình: Có thể bố trí sản xuất hạt F1 ở một thung lũng hoặc khu vực mà xung quanh trồng ngô, vườn cây ăn quả, làng mạc, trường học, sông lớn, đồi núi, … Nếu ở một phía nào đó là ruộng lúa thì cấy một dải rộng 100m giống lúa bố để cách ly.

2. Chủ động tưới tiêu: Ruộng sản xuất hạt lai F1 phải có kênh mương tưới tiêu chủ động hoàn toàn.
3. Các điều kiện khác: Đất thịt có độ phì cao, không chua, mặn, phèn. Vị trí ruộng sản xuất không thuộc vùng hay xảy ra dịch bệnh gây hại nghiêm trọng đối với cây lúa.

II. Xác định thời kỳ cảm ứng, thời gian trỗ bông nở hoa tung phấn an toàn

Dòng mẹ T1S-96 bất dục hoàn toàn khi nhiệt độ trung bình ngày cao > 260C vào thời kỳ cảm ứng, vì vậy thời kỳ trước trỗ từ 10 – 20 ngày nhất thiết phải có nhiệt độ trung bình ngày cao hơn 260C. Theo số liệu nhiều năm tại các trạm khí tượng vùng đồng bằng Sông Hồng thì từ 10/8 đến 10/9 luôn có nhiệt độ trung bình ngày cao hơn 260C, vì vậy điều khiển thời kỳ cảm ứng của dòng mẹ vào thời gian này sẽ đảm bảo độ bất dục hạt phấn đạt 100%.

Điều khiển các dòng bố mẹ trỗ bông nở hoa vào thời kỳ đáp ứng được các yêu cầu tối thiểu sau: Nhiệt độ trung bình ngày 25 –320C, ẩm độ không khí 80 – 90%, không có mưa, gió lớn trong ít nhất 5 ngày liên tục, trời quang mây, nắng nhẹ, gió nhẹ, từ ngày bắt đầu trỗ đến 10 ngày sau là lý tưởng nhất. Trong vụ mùa ở các tỉnh phía Bắc có thể cho lúa trỗ từ 25/8 – 25/9. Khi thoả mãn đồng thời 2 yếu tố trên sẽ vừa đảm bảo được chất lượng, vừa đảm bảo năng suất ruộng sản xuất F1.

III. Dự tính thời gian từ gieo đến trỗ 10% của các dòng bố mẹ.

Thời gian từ gieo đến trỗ của các dòng bố mẹ thay đổi theo nhiệt độ và độ dài ngày của từng vụ, từng vùng. Trong điều kiện vụ mùa ở miền Bắc thời gian từ gieo đền trỗ và số lá/ thân chính của dòng bố và mẹ như sau:

  • Dòng mẹ T1S-96: 82 – 86 ngày, Dòng bố R3 : 74 – 78 ngày
  • Số lá / thân chính của dòng mẹ : 14,5-15,5 lá; Dòng bố: 14,0-14,5 lá.

IV. Tính thời gian gieo mạ của các dòng bố mẹ.

Trong vụ mùa thời gian gieo mạ cách nhau giữa các dòng bố mẹ được tính toán trên cơ sở chênh lệch số lá và thời gian từ gieo đến trỗ của từng dòng. Dòng mẹ có thời gian từ gieo đến trỗ dài hơn dòng bố từ 6 – 8 ngày, do vậy gieo các dòng bố mẹ được bố trí như sau: Gieo dòng mẹ trước, sau khi gieo mẹ 6- 8 ngày thì gieo dòng bố lần 1 (R1), sau khi gieo R1 được 4- 5 ngày thì gieo bố lần 2 (R2).

Ví dụ: Dòng mẹ T1S-96 : Gieo ngày 20/ 6
Dòng bố R1 : Gieo ngày 26- 28/ 6
Dòng bố R2 : Gieo ngày 1- 3/ 7

(Chú ý: nếu gieo mẹ sớm hơn ví dụ trên thì khoảng cách giữa ngày gieo mẹ với các lần gieo bố cần điều chỉnh dài hơn (xem số liệu thí nghiệm tại mục “xác định thời vụ gieo mạ”). Khung thời vụ gieo mạ tốt nhất: 15- 25/6).

V. Dự tính lượng giống gieo

Trước khi gieo cần thử lại tỷ lệ nẩy mầm của các dòng để quyết định số lượng hạt giống cần ngâm ủ. Nếu tỷ lệ nảy mầm > 90% thì lượng giống cần cho 1ha là: Dòng mẹ T1S-96 cần 35 kg gieo 1 lần; Dòng bố R3:10 kg, gieo 2 lần, mỗi lần 5 kg.

B. KỸ THUẬT LÀM MẠ

1. Ngâm ủ giống:

Trước khi ngâm, phải xử lý hạt giống, chọn một trong các phương pháp sau:

  • Xử lý nước nóng 54 – 600C (ba sôi hai lạnh)
  • Xử lý nước vôi trong: hoà 5kg vôi đã tôi vào 100 lít nước, chắt lấy nước trong, ngâm lúa 12 giờ sau đó đãi sạch nước vôi.
  • Xử lý bằng thuốc diệt nấm Farizan, hoặc thuốc diệt nấm trên hạt khá.
  • Xử lý phòng bọ trĩ, rầy hại mạ: Khi mạ bắt đầu nứt nanh (sau khi vớt ủ 8-10 giờ) đổ mạ ra thúng phun thuốc Rigen hoặc trộn thuốc bột trừ sâu rầy đêu cho lô hạt giống, sau đó đậy lại 6-10 giờ sau thì gieo hạt.
  • Xử lý xong, đãi sạch, ngâm hạt giống vào nước sạch đến no nước, sau đó đãi kỹ, để trong rá cho ráo nước rồi đậy kín, giữ ở nhiệt độ 30 – 350C đến khi nảy mầm đều, mầm dài khoảng 0,3 cm thì gieo. (chú ý: tuyệt đổi không ủ hạt giống ở nhiệt độ quá cao 38-400C hoặc trong các loại bao khó thoát nước: vải dầy, nilon, bao PP, PE… )

2. Chuẩn bị dược mạ và gieo mạ.

  • Đất gieo mạ: Đất thịt nhẹ, hơi chua, độ phì cao, nhiều mùn, chủ động nước, không có cỏ dại, lúa vụ trước và các cây trồng khác.
  • Ruộng gieo mạ phải làm đất kỹ, bùn nhuyễn, sạch cỏ, sạch gốc rạ, san phẳng, lên luống rộng 120 – 150 cm có rãnh thoát nước rộng 30-40 cm.
  • Bón phân: 10 tấn phân chuồng mục + 450 kg supelân + 110kg urê + 70 kg kali/ ha (hoặc 280-300 kg NPK 16:16:8 / 1ha). Sau khi rắc phân, cào trộn đều phân trên mặt luống, sau đó trang phẳng rồi gieo hạt. Để có đủ mạ cấy 1ha cần 720m2 mạ bố ( mỗi lần gieo 360m2), 1000-1200 m2 mạ mẹ.
  • Kỹ thuật gieo: Mạ gieo thưa đều đặn, chìm 1/2 hạt thóc, mặt luống mạ phẳng không đọng nước. Khi cây mạ cao 1- 2cm thì tưới giữ ẩm để mặt luống không bị nứt.

(Chú ý: có thể dùng phương pháp gieo mạ dầy xúc, mạ sân (mạ phôi) mạ khay để làm mạ bố mẹ, khoảng cách gieo cấy dòng bố và mẹ không được thay đổi)

3. Chăm sóc mạ dược.
Mạ các dòng bố mẹ cần đạt các tiêu chuẩn: to gan, đanh dảnh, đẻ từ 3 – 4 nhánh trước khi cấy, sạch sâu bệnh. Muốn đạt các tiêu chuẩn trên cần:

  • Bón thúc 2 lần vào thời kỳ: (1) mạ có 2,1 – 2,5 lá bón 50 kg urê/ ha; (2) mạ có 4,1 – 4,5 lá bón 50 kg urê +30 kg kali/ha.
  • Phun chất kích thích đẻ nhánh: Hoá chất MET có khả năng kích thích mạ đẻ nhanh, đẻ nhiều, lá dầy, xanh đậm và lùn, nên phun khi mạ có 1,5 – 2 lá thật, lượng dùng 25-30g MET pha trong 20 lít nước phun cho 360 m2 ( nồng độ MET 20%), trước khi phun cần tưới một lớp nước mỏng cho ruộng mạ và giữ nước 1 – 2 ngày.
  • Chế độ nước: Khi gieo mặt luống không có nước đọng, khi mạ mọc tưới ẩm, giữ ẩm đều đến khi phun MET, sau khi phun 2 ngày tưới nước 1- 3 cm. Không để mặt luống khô nứt và không để nước sâu cho mạ đẻ nhánh tốt .
  • Kiểm tra sâu bệnh và phòng trừ: Thời kỳ mạ cần kiểm tra thường xuyên bọ trĩ, sâu cuốn lá, sâu đục nõn, rầy cám…, phát hiện sớm và trừ bằng thuốc đặc hiệu cho mỗi loại.Trước khi cấy 3 ngày kiểm tra mạ và phun trừ sâu bệnh.

C. KỸ THUẬT THÂM CANH RUỘNG CẤY

1. Chuẩn bị ruộng cấy và phân bón
Ruộng cấy: Phải cày bừa kỹ, sạch cỏ dại, lúa vụ trước và các cây trồng khác.

Lượng phân bón và tỷ lệ bón như sau:

  • Phân chuồng: 10 tấn/ha, nếu đất chua cần bón vôi (250-500kg/ha)
  • N:P:K: Tỷ lệ N:P:K = 1:1:1 hoặc 1: 0,75: 0,8. Lượng phân 120-150 kg N/ha. Để đảm bảo cho ruộng lúa sinh trưởng tốt nên bón lót phân tổng hợp NPK: 16:16:8:13S, lượng bón: 500-600 kg/ ha (tuỳ loại đất).

Kỹ thuật bón phân
Bón phân cho ruộng sản xuất hạt lai F1 theo phương châm “ nặng đầu, nhẹ cuối, giữa bổ sung”, cách bón cụ thể như sau: (trường hợp bón phân đơn)

Bón lót: Bón chung cả dòng bố mẹ toàn bộ phân chuồng + phân lân + 40% đạm + 40% kali

Bón thúc:

  • Lần 1: Sau khi cấy 5-6 ngày, lượng bón: 40% urê + 20% kali
  • Lần 2: Sau khi bón lần 1 từ 5 – 6 ngày: 10% urê
  • Lần 3: Trước khi trỗ 12-15 ngày: 10% urê +40% kali.

Thời điểm cấy

Khi mạ mẹ có 5,0-6,5 lá, bố 1 có 4,0-5,0 lá thì cấy 1 hàng bố 1 và mẹ trước, sau 4- 5 ngày cấy bố 2. Hoặc cấy mẹ trước, sau 6 ngày cấy bố 1, sau 10-11 ngày cấy bố 2.

Tỷ lệ hàng bố mẹ, hướng luống, mật độ khoảng cách cấy

  • Tỷ lệ bố mẹ là 2 hàng bố : 16 hàng mẹ
  • Hướng luống vuông góc với hướng gió thịnh hành khi lúa trỗ
  • Chiều rộng luống: 2,95 m, bố trí như sau: đường công tác 30cm, 2 hàng bố cách nhau 20cm, hàng bố cách hàng mẹ 20 cm, hàng mẹ cách nhau 15 cm.
  • Khoảng cách cấy : Cây bố cách nhau 15cm, cây mẹ cách nhau 12-14cm.
  • Mỗi khóm mẹ cấy 3 – 4 cây mạ, mỗi khóm bố cấy 2-3 cây mạ.

Chú ý: Trước khi nhổ mạ 2-3 ngày cho nước ngập mặt luống 7-10 cm để cho bùn mềm dễ nhổ, nhổ mạ nhẹ nhàng, giữ nguyên bùn không rửa để tránh đứt rễ mạ. Nhổ đến đâu cấy hếttrong ngày, cấy nông 2 – 3 cm tránh nghẹt rễ.

2. Chế độ nước

Khi cấy giữ lớp nước mặt ruộng 5-7 cm cho cây mạ tươi, cấy xong rút bớt nước còn 3 – 5 cm cho lúa đẻ nhánh sớm. Sau khi đẻ đủ số nhánh rút cạn trong 7 – 10 ngày cho mặt ruộng nứt “chân chim”, rồi lại tưới nước cho lúa phân hoá đòng.

Phòng trừ sâu bệnh

Thường xuyên theo dõi sâu bệnh để phòng trừ đúng và kịp thời. Chú ý các đối tượng sâu bệnh hại chính như: Bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn, đạo ôn, khô vằn, bọ trĩ, dòi đục nõn, sâu năn, sâu cuốn lá, sâu đục thân, bọ xít, rầy…

3. Dự đoán, Điều chỉnh trỗ bông nở hoa.

Dự đoán sớm

Theo dõi quá trình ra lá từ ruộng mạ đến ruộng cấy, khi thấy dòng mẹ ra lá thứ 13, dòng bố ra lá thứ 12, kiểm tra lá thắt eo và tiến hành theo dõi phân hoá đòng. Thời kỳ này phải theo dõi thường xuyên 2 ngày 1 lần. Lấy mẫu mỗi điểm 5 nhánh chính của cây bố, 5 nhánh chính của cây mẹ, mỗi héc ta lấy 5 điểm đại diện, bóc cẩn thận nhánh chính quan sát ghi chép bước phân hoá đòng, dự đoán bước phân hoá của bố mẹ. Nếu thấy dòng bố và mẹ có các bước phân hoá đòng như nhau, coi như là trùng khớp.

Điều chỉnh

Nếu quan sát thấy bố mẹ phân hóa đòng có khả năng lệch thì phải điều chỉnh sớm bằng các biện pháp:

Dùng nước: Nếu bố phân hoá đòng sớm hơn mẹ thì rút cạn nước để kìm hãm, nếu bố phân hoá chậm hơn mẹ thì giữ nước sâu 15 – 20cm để thúc đẩy.

Dùng hoá chất:

  • KH2PO4 có tác dụng thúc đẩy phân hoá đòng, phun : KH2PO4 cho dòng phát triển chậm. Tuỳ mức độ chậm mà phun nồng độ cao hay thấp (chậm nhiều pha 100g/ 10 lít nước, chậm ít pha 50 – 25g/ 10lít nước), phun 2 – 3 ngày liền liều lượng phun không quá 3kg/ ha.
  • NH4NO3 có tác dụng kìm hãm phân hoá đòng, phun NH4NO3 cho dòng phát triển nhanh (100g/ 10 lít nước).

Dùng phân bón: bón thêm kali cho dòng chậm và đạm cho dòng nhanh (chú ý trước khi bón phân cần rút cạn nước để phân không tràn từ dòng mẹ sang dòng bố và ngược lai).

4. Phun GA3

  • Khi mẹ trỗ 15-20 % số bông, bố trỗ tương ứng thì phun GA3. Lượng phun lần 1: 100g/ ha phun lần 2 từ 20 – 40 gam/ ha tuỳ theo mức độ trùng khớp của bố mẹ.

Chú ý: Phun vào buổi sáng 6 – 9giờ nếu phun xong chưa được 4 giờ mà gặp mưa to thì phun lại ngay hôm sau. Khi phun GA3 ruộng phải có nước, không phun buổi chiều.

5. Thụ phấn bổ sung

Sau khi phun GA3 hoa nở rộ, cần quan sát tìm thời gian nở rộ nhất để tiến hành thụ phấn bổ sung. Thời gian thụ phấn bổ sung thường từ 10 giờ đến 1giờ trưa, mỗi ngày thụ 3-4 lần có thể dùng sào gạt hoặc kéo dây (tuỳ theo chiều rộng ruộng lúa).

6. Khử lẫn

  • Trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, quan sát phát hiện thấy cây khác dạng phải nhổ bỏ cả gốc. Khi lúa bắt đầu trỗ báo nhổ bỏ những cây có bao phấn mẩy vàng trong hàng mẹ và các biến dị khác trong hàng bố mẹ.
  • Phun GA3 buổi sáng, buổi chiều ra quan sát nhổ bỏ cây lẫn, thời kỳ này cần loại bỏ thật kỹ cây khác dạng và cây có bao phấn vàng để không bị lẫn phấn.
  • Khi lúa chín gặt hàng bố trước, cắt sát mặt đất, sau đó khử lẫn lại trên luống mẹ, kiểm tra cẩn thận, khi cán bộ kiểm định đồng ruộng xác nhận đạt yêu cầu mới được gặt mẹ.

7. Thu hoạch

  • Sau khi phun GA3 20 – 25 ngày gặt hết dòng bố, kiểm tra lại hàng mẹ và khử lẫn thật cẩn thận, sau đó chọn ngày nắng ráo để gặt mẹ. Chú ý làm vệ sinh sân, máy tuốt, máy sấy, các dụng cụ chuyên chỏ và đựng giống tránh lẫn cơ giới.
  • Hạt F1 TH3-3 có tỷ lệ hở vỏ trấu thấp 3-5% nên không được để chín quá kỹ trên đồng ruộng. Khi tuốt phải kiểm tra để hạt không bị dập nát. Phơi khô đến độ ẩm10 – 11% đóng bao có một lớp polyetylen bên trong và bao PP bên ngoài. Bảo quản trong kho mát hoặc kho lạnh. Trước khi xuất giống cần kiểm tra lại tỷ lệ nảy mầm.

Phần III – Kỹ thuật sản xuất hạt lai F1 hệ 3 dòng

Hệ thống lúa lai 3 dòng được đặc trưng bởi việc sử dụng các dòng bất dục đực tế bào chất (dòng A), dòng duy trì bất dục đực (dòng B) và dòng phục hồi phấn (dòng R).

HYT 100 là giống lúa lai 3 dòng với dòng mẹ (A) là IR 58025A và dòng bố (R) là R100 , do Trung tâm NC & PT lúa lai chọn tạo. HYT 100 có năng suất cao, chất lượng tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, thích hợp cho vụ Xuân muộn, Mùa sớm ở vùng ĐBSH, Hè Thu ở các tỉnh Bắc Trung Bộ. Hạt lai F1 có thể được sản xuất trong vụ Xuân và vụ Mùa.

1. Chọn ruộng sản xuất

Ruộng sản xuất hạt lai F1 phải đảm bảo những yêu cầu sau:

  • Được cách ly không gian với các ruộng lúa khác trong phạm vi tối thiểu 100 m, nếu không phải bố trí để các ruộng xung quanh trỗ lệch 20 ngày so với ruộng sản xuất F1 hoặc phải quây bạt cách ly cao trên 3 m. Có thể dùng dòng bố với độ thuần cao cấy trong phạm vi cách ly.
  • Ruộng phẳng, có độ phì cao, chủ động tưới tiêu.
  • Không nằm trong vùng thường xuyên có dịch sâu bệnh hại.

2. Làm mạ

Xác định thời vụ gieo

Cần bố trí để lúa trỗ bông, phơi màu vào thời kỳ an toàn nhất: nhiệt độ trung bình ngày 26-28oc, không bị mưa 3 ngày liên tục trở lên, tránh gió Tây khô nóng (>350c) hoặc gió Bắc lạnh ẩm (<200c) trong vụ Xuân và tránh mưa bão trong vụ Mùa. Nói chung, trong vụ Xuân thời kỳ trỗ bông an toàn ở vùng ĐBSH là từ ngày 25/4 – 10/5, ở vùng Bắc Trung Bộ từ 15 – 30/4. Trong vụ Mùa, thời kỳ trỗ bông an toàn ở vùng ĐBSH từ 25/8 – 10/9, riêng khu vực ven biển từ 20 – 30/9, Bắc trung bộ từ 10 – 25/8.

Để lúa trỗ vào thời gian trên, thời vụ gieo dòng mẹ và các đợt dòng bố có thể bố trí như sau:

Vụ Xuân

Dòng Ngày gieo Số lá A khi gieo R Ngày trỗ 10% ( Dự kiến)
ĐBSH Bắc T.Bộ Lượng giống * ĐBSH Bắc T. Bộ
A 21-23/1 12-15/1 30 28/4 20/4
R1 29-31/1 20-22/1 7 2,3 30/4 22/4
R2 3-5/2 25-27/1 7 3,3 3/5 25/4

Vụ mùa(*) kg hạt giống /ha sản xuất hạt lai F1

Kỹ thuật làm mạ

Ngâm ủ hạt giống: Dùng nước sạch rửa kỹ hạt giống trước khi ngâm. Với dòng mẹ, cần phân loại hạt chắc và hạt lửng ngâm, ủ riêng. Dòng bố ngâm khoảng 42 – 48 giờ trong vụ Xuân và 36 – 42 giờ trong vụ Mùa, 8 – 10 giờ thay nước 1 lần. Dòng mẹ ngâm khoảng 6 – 8 giờ (giống cũ), 10 – 12 giờ (giống mới), 4 – 5 giờ thay nước 1 lần. Trong quá trình ngâm không để nước bị chua. Không ngâm ủ giống trong túi ni-lon hoặc bao dứa. Sau khi ngâm đãi sạch, để ráo nước trước khi ủ. Trong quá trình ủ nếu khô phải đảo và tưới nước 2 lần/ ngày để mầm và rễ cân đối.

Chuẩn bị đất mạ và kỹ thuật gieo mạ: Ruộng gieo mạ phải bằng phẳng, chủ động tưới tiêu, đất phải nhuyễn bùn, sạch cỏ.

Làm luống mạ rộng 1,2-1,4m, mặt luống phẳng, róc nước, xung quanh có rãnh rộng 0,2m để tưới và tiêu nước.

Gieo 1 kg hạt giống/ 40-45m2 dược mạ, gieo thật đều.

Phân bón cho mạ

Chủng loại Tính cho 1 ha (kg) Tính cho 1 sào BB 360m2 (kg)
Phân chuồng mục 8.000-10.000 300-350
Urê 140-160 5-5,5
Phân lân 400-420 14-15
Kali clorua 110 4

 

Cách bón

  • Bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân.
  • Bón rải mặt luống trước khi chang phẳng và gieo: 40% urê + 50% kali.
  • Bón thúc lần 1 khi mạ 2,5 lá: 40% urê + 50% kali.
  • Bón thúc lần 2 khi mạ 4,0- 4,5 lá: 20% urê.

Tuỳ tình hình sinh trưởng của mạ có thể bón 15 kg urê/ha trước khi cấy 5 ngày.

Chăm sóc ruộng mạ

  • Sau khi gieo giữ ẩm, tránh vũng nước trên mặt luống, cần giữ nước thường xuyên ở rãnh.
  • Lúc mạ 1,2-1,5 lá, tháo cạn nước và phun dung dịch MET để kích thích mạ đẻ nhánh. Mỗi ha mạ phun 500-550 g MET (loại 15% nguyên chất) pha với 550 lít nước, hoà tan thật kỹ, phun thật đều. Sau phun giữ ruộng cạn trong 15-18 giờ, sau đó tưới một lớp nước mỏng. Thời gian tiếp theo tưới tiêu xen kẽ. Trước khi cấy 5 ngày cho nước vào ruộng để đất mềm, dễ nhổ mạ.
  • Cần kiểm tra thường xuyên, phát hiện và phòng trừ kịp thời các loại sâu bệnh chim, chuột…
  • Vụ Xuân cần che phủ ni-lon chống rét cho mạ
  • Khi cấy mạ phải to, khoẻ, tỉ lệ mạ đẻ nhánh cao (trên 75%), rễ dài và trắng, lá xanh, sạch sâu bệnh, mỗi cây mạ phải có 2-3 dảnh cơ bản.

Có thể áp dụng kỹ thuật làm mạ dày xúc cho cả dòng A và dòng R, cấy mạ 2,5-3 lá.

Kỹ thuật canh tác ở ruộng cấy HYT 100

1. Xác định phương thức cấy

  • Tỷ lệ hàng 2R: 12A hoặc13A (2 hàng bố : 12 hoặc13 hàng mẹ)
  • Dòng mẹ cấy hàng cách hàng 15cm, khóm cách khóm trong hàng 17cm, cấy 2 cây mạ/ khóm.
  • Dòng bố cấy hàng cách hàng 20 cm, khóm cách khóm trong hàng 17 cm, cấy 3-4 cây mạ/ khóm, cấy hai hàng bố so le nhau (kiểu nanh sấu).
  • Cấy hàng bố đợt 1 cách hàng mẹ 20 cm, hàng bố đợt 2 cách hàng mẹ 30 cm, làm lối công tác.

Bố trí hàng vuông góc với hướng gió chính lúc trỗ.

Kỹ thuật cấy

Tuổi mạ lúc cấy: Vụ Mùa 18-20 ngày, vụ Xuân 6,0-6,2 lá. Nhổ mạ kèm bùn, không đập, không giũ mạ. Cấy nông tay, nhổ mạ đến đâu cấy đến đó, không để mạ qua đêm.

Thứ tự cấy: Dòng mẹ, dòng bố đợt 1, dòng bố đợt 2.

Phân bón ruộng cấy

 

Chủng loại Tính cho 1 ha (kg) Tính cho 1 sào BB (kg)
Phân chuồng 10.000-11.000 350-400
Phân lân 470 – 550 18-20
Urê 250 – 280 9-10
Kali clorua 220 – 250 8 – 9

Cách bón

  • Bón lót tất cả PC trước khi phay lần 1. Bón 100% lân trước khi bừa lần cuối
  • Bón rải mặt cho cả ruộng 30% urê + 20% kali trước khi cấy dòng A một ngày.
  • Bón thúc đợt 1 sau khi cấy dòng A 8-10 ngày 40% urê + 40 % kali
  • Bón thúc đợt 2 riêng cho R 10% urê+ 5% Kali sau bón thúc đợt 1là 7-8 ngày
  • Bón thúc đợt 3 riêng cho R 10% Ure+ 5% Kali sau thúc đợt 2 là 7 ngày
  • Bón đón đòng cho cả ruộng( lúc dòng A phân hoá đòng bước 5) 30 % lưọng kali còn lại, Bón cho dòng A 10 % urê khi đòng lúa ở bước 7-8

Cần căn cứ vào mùa vụ, chất đất và tình hình sinh trưởng, phát triển của lúa mà điều chỉnh lượng phân và cách bón cho phù hợp.

Có thể thay phân đơn bằng phân NPK tổng hợp cho bón lót và bón thúc đợt I với lượng nguyên chất tương đương.

Kết hợp làm cỏ 1-2 lần cho cả dòng bố và dòng mẹ.

2. Quản lí nước

Sau khi cấy giữ lớp nước nông (2-3 cm) cho lúa hồi xanh, tiếp theo tưới và tiêu nước xen kẽ. Khi lúa đẻ nhánh tối đa rút nước phơi ruộng nẻ chân chim. Sau đó cho nước vào và giữ đủ nước trong suốt thời kỳ làm đòng, trỗ bông và vào chắc. Trước khi thu hoạch 7 ngày rút nước phơi ruộng.

3. Phòng trừ sâu bệnh

Cần theo dõi và phòng trừ kịp thời các loại sâu bệnh chính trong từng giai đoạn như bọ trĩ, ruồi đục nõn, sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu, đạo ôn, khô vằn và bạc lá, đồng thời tích cực trừ chuột.

Chủ động phun các loại thuốc phòng trừ bệnh bạc lá vi khuẩn như Diệp khô linh, Sasa, Batocide, Xanthomix…cho cả dòng bố và dòng mẹ.

Phun Tilt super hai lần cho dòng mẹ, lần 1 trước khi lúa trỗ, lần 2 sau lần 1 khoảng10-12 ngày. Trước khi lúa trỗ 4-5 ngày, cần phun phòng các loại sâu bệnh hại chính. Trong thời gian gạt phấn không nên sử dụng thuốc BVTV.

4. Dự đoán và điều chỉnh thời gian trỗ bông

Khoảng 27-30 ngày trước ngày lúa trỗ theo dự kiến, cứ 2-3 ngày bóc đòng 1 lần kiểm tra.

Để dòng bố và dòng mẹ trỗ bông trùng khớp, tiến độ phân hoá đòng yêu cầu là: Từ bước 1 đến bước 6, dòng mẹ phải nhanh hơn dòng bố đợt 1 khoảng 4-5 ngày, ở cuối bước 7, dòng mẹ phải nhanh hơn dòng bố đợt 1 khoảng 2 ngày.

Khi kiểm tra thấy biểu hiện trỗ bông của dòng bố và dòng mẹ không trùng khớp cần điều chỉnh kịp thời bằng các biện pháp sau:

Xử lý dòng phát triển chậm

  • Bón kali clorua lượng 100-120 kg/ha nếu dòng mẹ chậm, 30-40 kg/ha nếu dòng bố chậm.
  • Phun KH2PO4 lượng 3,5-4,0 kg + 400 lít nước/ha/lần phun nếu dòng mẹ chậm, 0,8-1,0kg + 100 lít nước/ha/lần phun nếu dòng bố chậm. Phun 2-3 lần trong 2-3 ngày liền, phhun vào lúc bước 2-3 phân hóa đòng.
  • Phun 7-8 g GA3 + 1,5 kg KH2PO4 + 400 lít nước/ha nếu dòng mẹ chậm, 2,5 g GA3 + 0,5 kg KH2PO4 + 100 lít nước/ha nếu dòng bố chậm. Biện pháp này chỉ tiến hành trước trỗ 4-5 ngày (cuối bước 7).

Xử lý dòng phát triển nhanh

  • Bón 100-140 kg urê/ ha cho dòng mẹ nếu dòng mẹ nhanh, 40 kg urê/ ha cho dòng bố nếu dòng bố nhanh. Biện pháp này ít được áp dụng.
  • Phun MET lượng 1,2 kg (loại 15% nguyên chất) + 550 lít nước/ha nếu dòng mẹ nhanh, 0,3 kg + 150 lít nước/ ha nếu dòng bố nhanh, phun trước bước 4 của quá trình phân hóa đòng.

Nếu dòng bố chậm giữ đủ nước trong ruộng, dòng bố nhanh rút nước phơi ruộng nẻ chân chim.

Tuỳ mức độ trỗ chênh lệch mà sử dụng từng biện pháp hay kết hợp các biện pháp trên cho phù hợp.

5. Phun GA3, thụ phấn bổ sung

Lượng GA3 300 g/ ha, phun làm 3 lần:

  • Lần 1 phun 20 g GA3 + 450 lít nước/ha khi dòng mẹ ở bước 8 (chia vè) đến trỗ báo.
  • Lần 2 phun 140 g GA3 + 550 lít nước/ha, phun cách lần 1 hai ngày.
  • Lần 3 phun 140 g GA3 + 550 lít nước/ha, phun ngày tiếp theo.

Hoà tan GA3 (chế phẩm 920, dạng bột trắng của Trung Quốc) trong cồn (1g GA3/10-15 ml cồn) trước khi phun 18-20 giờ. Lần 1 phun đều cho cả dòng mẹ và dòng bố, lần 2 và 3 phun đều cho cả dòng bố và dòng mẹ, sau đó phun thêm cho dòng bố một lượt nhẹ.

Phun hỗn hợp Điều hòa hoa nở 2 lần (phun cùng với GA3 lần 2 và 3) để tăng tỷ lệ kết hạt F1.

Phun vào buổi sáng, kết thúc trước khi dòng bố tung phấn ít nhất 30 phút. Nếu có nước mưa hoặc sương phải gạt nước trước khi phun.

Khi dòng bố bắt đầu tung phấn, hàng ngày dùng sào tre, nứa gạt trong khoảng từ 9-12 giờ (tuỳ theo thời tiết), gạt 3-4 lần/ngày, gạt liên tục trong 10-12 ngày cho đến khi dòng bố hết phấn. Trong những ngày có gió mạnh, có thể gạt phấn bằng phương pháp kéo dây ngược chiều gió.

6. Khử lẫn, thu hoạch

Cần khử lẫn thường xuyên cả dòng bố và dòng mẹ, tập trung vào 4 đợt chính: Giai đoạn lúa đứng cái, trước khi phun GA3, trong thời kỳ gạt phấn và trước khi thu hoạch. Nhổ bỏ tất cả những cây khác dạng, những cây có bao phấn vàng lẫn trong quần thể dòng mẹ.

Khoảng 20 – 22 ngày kể từ ngày bắt đầu gạt phấn, tiến hành thu hoạch. Gặt dòng bố trước, cắt sát gốc, khử lẫn dòng mẹ lần cuối rồi mới thu hoạch dòng mẹ (hạt lai F1). Chú ý tránh lẫn tạp cơ giới trong quá trình gặt, tuốt, phơi và đóng bao.

Phần 4 – Qui trình kỹ thuật sản xuất hạt lai F1 tổ hợp Nhị Ưu 838, vụ Xuân ở vùng Đồng Bằng Sông Hồng và Bắc Trung Bộ

Nhị ưu 838 là giống lúa lai 3 dòng, được tạo ra từ cặp lai có dòng mẹ (A) II-32A và dòng bố (R) Bức Khôi 838. Nhị ưu 838 có tiềm năng năng suất cao, rất thích hợp cho vụ Xuân muộn ở miền Bắc Việt Nam.

1. Chọn ruộng sản xuất

Ruộng sản xuất hạt lai F1 phải đảm bảo những yêu cầu sau:

  • Được cách ly không gian với các ruộng lúa khác trong phạm vi tối thiểu 100 m, nếu không phải bố trí để các ruộng lúa xung quanh trỗ lệch 20 ngày so với ruộng sản xuất hạt lai F1 hoặc phải quây bạt cách ly cao trên 3 m trước khi dòng mẹ trỗ bông. Có thể dùng dòng bố với độ thuần cao cấy trong phạm vi cách ly.
  • Ruộng phẳng, có độ phì cao, chủ động tưới tiêu.
  • Không nằm trong vùng thường xuyên có dịch sâu bệnh hại.

2. Làm mạ

Xác định thời vụ gieo và lượng hạt giống bố mẹ

Cần bố trí để lúa trỗ bông, phơi màu vào thời kỳ an toàn nhất: nhiệt độ trung bình ngày 26-280C, không bị ảnh hưởng bởi gió đông bắc lạnh ẩm hoặc gió tây khô nóng, không bị mưa 3 ngày liên tục trở lên.

Ở vùng Đồng bằng sông Hồng, thời gian lúa trỗ an toàn là từ 25/4-10/5, ở vùng Bắc Trung bộ từ 20/4 đến 5/5. Để lúa trỗ vào thời gian trên, có thể bố trí gieo các đợt dòng bố và dòng mẹ theo bảng sau:

Ở các tiểu vùng khác cần căn cứ vào điều kiện khí hậu, thời tiết cụ thể để bố trí thời vụ gieo cho phù hợp

Kỹ thuật làm mạ

Ngâm ủ hạt giống: Dùng nước sạch rửa kỹ hạt giống trước khi ngâm. Với dòng A cần phân loại hạt chắc và hạt lửng, ngâm ủ riêng. Ngâm giống bằng nước ấm 3 sôi 2 lạnh, đảm bảo hạt thóc no nước. Dòng bố ngâm khoảng 42-48 giờ, 10-12 giờ thay nước 1 lần. Dòng mẹ ngâm khoảng18-22 giờ (giống mới), 10-14 giờ (giống cũ), 5-6 giờ thay nước 1 lần. Sau khi ngâm đãi sạch, để ráo nước, ủ ở chỗ ấm, ủ lượng nhỏ 6-7kg/thúng, không ủ trong túi ni-lon hoặc bao dứa. Trong quá trình ủ phải thường xuyên kiểm tra nhiệt độ của mộng, đảm bảo mầm nảy đều và khoẻ, mầm và rễ cân đối.

Chuẩn bị đất mạ và kỹ thuật gieo mạ

Ruộng gieo mạ phải bằng phẳng, chủ động tưới tiêu, ở nơi khuất gió, đất phải nhuyễn bùn, sạch cỏ.

Làm luống mạ rộng 1,2-1,4m, mặt luống phẳng, róc nước, xung quanh có rãnh rộng 30 cm, sâu 10cm để tưới và tiêu nước và để vùi ni-lon chống rét cho mạ.

Phân bón cho mạ

Lượng phân: Mỗi ha mạ cần bón 8-10 tấn phân chuồng mục và lượng phân vô cơ gồm 400 kg super lân, 140-155kg urê,140 kg kali clorua (KCl), tương đương với 60kg P2O5 + 65-70kg N + 70kg K2O

Cách bón:

  • Toàn bộ phân chuồng bón lót trước khi phay ruộng, phân lân bón 100% trước khi bừa lần cuối.
  • Bón 30% urê + 40% kali clorua rải mặt luống trước khi chang phẳng và gieo.
  • Lúc mạ 2,5-2,8 lá bón 40% urê + 40% kali clorua
  • Lúc mạ 4,0-4,5 lá bón 20% kg urê
  • Trước khi cấy 5-6 ngày tuỳ theo sinh trưởng của mạ có thể bón nốt 10% lượng urê còn lại.

Chú ý:

  • Không bón phân khi nhiệt độ < 150C, khi bón thúc mặt luống phải có nước.
  • Có thể thay lượng phân trên bằng lượng NPK tương ứng.

Chăm sóc ruộng mạ

  • Sau khi gieo phải giữ ẩm, tránh vũng nước trên mặt luống, cần giữ nước thường xuyên ở rãnh. Lúc mạ 1,2-1,5 lá, tháo cạn nước và phun dung dịch MET để kích thích mạ đẻ nhánh. Mỗi ha mạ phun 420-450 g MET (loại 15% nguyên chất) pha với 550 lít nước. Hoà tan thật kỹ, phun thật đều. Phun xong giữ ruộng cạn trong 15-18 giờ. Sau đó tưới một lớp nước mỏng, thời gian tiếp theo tưới tiêu xen kẽ. Trước khi cấy 4-5 ngày cho nước vào ruộng để đất mềm, dễ nhổ mạ.
  • Cần che nilon chống rét cho mạ khi nhiệt độ < hoặc =150C
  • Kiểm tra thường xuyên, phát hiện và phòng trừ kịp thời các loại sâu bệnh hại chính như bọ trĩ, ruồi đục nõn…đồng thời tích cực trừ chuột.
  • Khi cấy, mạ phải to, khoẻ, rễ dài và trắng, lá xanh, sạch sâu bệnh, tỉ lệ mạ đẻ nhánh cao (trên 75%), mỗi cây mạ phải có 2-3 dảnh cơ bản.

3. Kỹ thuật canh tác ở ruộng lúa cấy

a. Phương thức cấy

  • Tỷ lệ hàng 2R:12-14A
  • Cấy dòng A hàng cách hàng 15 cm, khóm cách khóm trong hàng 13 cm.
  • Dòng R cấy hai hàng cách nhau 20 cm, khóm cách khóm trong hàng 16-17 cm, cấy hai hàng R so le nhau (kiểu nanh sấu).
  • Hàng R1 cách hàng A 20-25 cm
  • Hàng R2 cách hàng A 30 cm (lối công tác, kiểu gạt phấn sang một bên).
  • Bố trí hàng vuông góc với hướng gió chính lúc trỗ.
  • Dòng R cấy 3-4 cây mạ (7-9 dảnh CB)/khóm, dòng A cấy 2-3 cây mạ(6-8dảnhCB)/khóm.
  • Tuổi mạ lúc cấy: Dòng R đạt 6,8-7,0 lá, dòng A đạt 6,5-6,8 lá. Thứ tự cấy: A, R1, R2.

Kỹ thuật cấy

Mỗi đợt R cấy xong trong 1 ngày, dòng A cấy không quá 3 ngày. Nhổ mạ kèm bùn, không đập, không giũ mạ. Cấy nông tay, không sâu quá 3 cm, nhổ mạ đến đâu cấy đến đó, không để mạ qua đêm.

b. Phân bón cho ruộng cấy

Lượng phân: Mỗi ha ruông cấy cần bón 10-12 tấn phân chuồng và lượng phân vô cơ gồm 450-500kg super lân, 250-280 kg urê và 225-250kg kali clorua, tương đương với 75-80kg P205,140-150kg N, 135-150kg K20.

Cách bón (tính cho 1 ha):

Bón lót:

  • Toàn bộ phân chuồng trước khi phay lần 1 và 100% phân lân trước khi phay hoặc bừa lần cuối
  • Bón 100 kg urê + 85 kg kali cho cả ruộng trước khi cấy dòng A.

Bón thúc lần 1 (sau cấy R2 khoảng 5-7 ngày): 100-125 kg urê + 85 kg kali (bón cho cả bố và mẹ).

Bón thúc lần 2: Bón riêng cho dòng bố 30kg urê và bón cho những chỗ xấu của dòng mẹ 0-35 kg urê, 7-10 ngày sau thúc lần 1.

Bón nuôi đòng: Khi đòng phân hoá ở bước 5, bón 30 kg urê + 55-80 kg kali.

Kết hợp làm cỏ sục bùn 1-2 lần cho cả dòng bố và dòng mẹ.

Chú ý: Cần căn cứ vào chất đất, tình hình sinh trưởng và phát triển của lúa mà điều chỉnh lượng phân và cách bốn cho phù hợp.

c. Quản lí nước

Sau khi cấy giữ lớp nước nông (2-3 cm) cho lúa hồi xanh, tiếp theo tưới và rút nước xen kẽ. Trước khi phân hoá đòng rút nước phơi ruộng nẻ chân chim. Sau đó giữ đủ nước trong suốt thời kỳ làm đòng, trỗ bông và vào chắc. Trước khi thu hoạch 7 ngày rút nước phơi ruộng.

d. Phòng trừ sâu bệnh

Cần theo dõi và phòng trừ kịp thời các loại sâu bệnh chính như bọ trĩ, ruồi đục nõn, sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu, đạo ôn, khô vằn và bạc lá đồng thời tích cực trừ chuột.

e. Dự đoán và điều chỉnh thời gian trỗ bông

Khoảng 28-30 ngày trước ngày lúa trỗ theo dự kiến, cứ 2-3 ngày bóc đòng 1 lần kiểm tra. Để dòng bố và dòng mẹ trỗ bông trùng khớp, tiến độ phân hoá đòng yêu cầu là:

Trong cả quá trình phân hoá đòng (8 bước), dòng mẹ phải nhanh hơn dòng bố đợt 1 khoảng 2-3ngày.

Khi kiểm tra thấy biểu hiện trỗ bông của dòng bố và dòng mẹ không trùng khớp cần điều chỉnh kịp thời bằng các biện pháp sau:

Xử lý dòng phát triển chậm

  • Bón kali clorua lượng 100 kg/ha (nếu dòng mẹ chậm), 30-40 kg/ha (nếu dòng bố chậm)
  • Phun KH2PO4 lượng 3,0-3,5 kg +350-400 lít nước/ha/lần phun (nếu dòng mẹ chậm), 1,0-1,5 kg + 100-150 lít nước/ha/lần phun (nếu dòng bố chậm). Phun 2-3 lần trong 2-3 ngày liền lúc lúa phân hoá đòng bước 2-3.
  • Phun 7-8 g GA3 + 1,5-2,0 kg KH2PO4 + 400 lít nước/ha (nếu dòng mẹ chậm), 2,5 g GA3 + 0,5 kg KH2PO4 + 100 lít nước/ha (nếu dòng bố chậm). Biện pháp này chỉ tiến hành trước khi lúa trỗ 4-5 ngày (cuối bước 7).

Xử lý dòng phát triển nhanh

  • Bón urê lượng 140 kg/ha (nếu dòng mẹ nhanh), 40 kg/ha (nếu dòng bố nhanh).
  • Phun MET lượng 850-1.000 g (loại 15% nguyên chất) + 550 lít nước/ha (nếu dòng mẹ nhanh), 200-250 g + 125 lít nước/ha (nếu dòng bố nhanh).

Nếu dòng bố chậm thì giữ đủ nước trong ruộng, nếu dòng bố nhanh thì rút nước phơi ruộng nẻ chân chim.

Tuỳ mức độ trỗ chênh lệch mà sử dụng từng biện pháp hay kết hợp các biện pháp trên cho phù hợp và phải tiến hành trước bước 4 của quá trình phân hoá đòng.

f. Phun GA3, thụ phấn bổ sung 

Lượng GA3 240-250 g/ha, phun 3 lần .

  • Lần 1: Phun 80-90 g GA3 + 550 lít nước/ha khi dòng mẹ trỗ 15- 20%
  • Lần 2: Phun 120 g GA3 + 550 lít nước/ha, phun vào ngày tiếp theo.
  • Lần 3: Phun 40 g GA3 + 550 lít nước/ha, phun sau lần 2 hai ngày.

Hoà tan GA3 (chế phẩm 920, dạng bột trắng của Trung Quốc) trong cồn (1 g GA3/ 10 ml cồn) trước khi phun 18-20 giờ. Lần 1 và lần 2, mỗi lần phun đều cho cả dòng mẹ và dòng bố, sau đó phun thêm cho dòng bố một lượt. Lần 3, chủ yếu phun cho dòng mẹ. Phun vào buổi sáng, kết thúc trước khi dòng bố tung phấn. Nếu có nước mưa hoặc sương phải gạt nước trước khi phun.

Khi dòng bố bắt đầu tung phấn, dòng mẹ nở hoa thì tiến hành gạt phấn. Hàng ngày dùng sào tre, nứa gạt trong khoảng từ 9-12 giờ (tuỳ theo thời tiết), gạt 3-4 lần/ ngày, gạt liên tục trong 10-12 ngày cho đến khi dòng bố hết phấn. Trong những ngày gió mạnh, có thể gạt phấn bằng phương pháp kéo dây.

g. Khử lẫn, thu hoạch

Cần khử lẫn thường xuyên cả dòng bố và dòng mẹ, tập trung vào 4 đợt chính: giai đoạn lúa đứng cái, trước khi phun GA3, trong quá trình gạt phấn và trước khi thu hoạch. Khử những cây khác dạng, những cây trỗ sớm, trỗ thoát cổ bông và có bao phấn vàng lẫn trong quần thể dòng mẹ.

Gặt dòng bố trước, cắt sát gốc, khử lẫn dòng mẹ lần cuối rồi mới thu hoạch dòng mẹ (hạt lai F1). Chú ý tránh lẫn tạp cơ giới trong quá trình gặt, tuốt, phơi và đóng bao.