GIỐNG LÚA KIM CƯƠNG 90

I. Nguồn gốc: Là giống lúa thuần Trung Quốc, có tiềm năng năng suất cao.
II. Đặc điểm giống
– Chiều cao cây 110-120 cm, khả năng đẻ nhánh khỏe. Cứng cây, dạng hình thâm canh. Bông dài 25-28 cm, bông nhiều hạt, xếp xít, vỏ hạt sẫm. Hạt dài, gạo trong, tỷ lệ gạo 70%, khối lượng 1000 hạt 23-24 gam.
– Thời gian sinh trưởng vụ Xuân 125-130 ngày; vụ Mùa 100-105 ngày.
– Năng suất trung bình 55- 60 tạ/ha, thâm canh có thể đạt 70-75 tạ/ha.
– Khả năng thích ứng rộng, chịu rét khá, chụi nóng trung bình.
– Nhiễm nhẹ một số sâu bệnh hại chính (khô vằn, đạo ôn….)
III. Yêu cầu kỹ thuật:
– Chân đất: thích hợp chân đất vàn, vàn thấp trong các trà Xuân muộn và Mùa sớm.
– Thời vụ gieo cấy: tại các tỉnh miền Bắc có thể tham khảo lịch thời vụ sau: trà Xuân muộn gieo từ 25/1-10/2, gieo mạ dày xúc hoặc mạ nền (cấy tuổi mạ 3-3,5 lá), nếu gieo mạ dược cấy tuổi mạ 4,0-4,5 lá ; vụ Mùa gieo trong tháng 6, cấy tuổi mạ từ 15-18 ngày.
– Mật độ cấy: 50- 55 khóm/m2, cấy 2-3 dảnh/khóm, cấy nông tay.
– Phân bón: để đạt năng suất cao cần bón phân cân đối, tập trung, bón sớm và khuyến cáo sử dụng phân tổng hợp NPK bón lót và bón thúc. Lượng phân bón tùy theo từng loại đất, trên chân đất trung bình bón:
* Đối với phân tổng hợp NPK:
– Bón lót (trước khi bừa cấy): bón 560-700 kg/ha phân NPK (5:10:3) cho vụ Xuân; bón 420-560 kg/ha cho vụ Mùa.
– Bón thúc lần 1 (khi lúa bén rễ hồi xanh): bón 360-400 kg/ha phân NPK (12:5:10) + 30-40 kg/ha đạm urê, kết hợp làm cỏ sục bùn.
– Bón thúc lần 2 (khi lúa đứng cái): bón 60-80 kg/ha phân Kaliclorua.
* Đối với phân đơn:
– Lượng phân bón cho 1 ha: 8 tấn phân hữu cơ hoặc 2 tấn phân vi sinh + 200-220 kg đạm Urê + 450-500 kg Supe lân + 120-140 kg Kali clorua. Vụ Mùa, vụ Hè thu giảm 10% lượng đạm, tăng 15% lượng phân kali so với vụ Xuân.
– Bón lót (trước khi bừa cấy) toàn bộ phân hữu cơ hoặc phân vi sinh, phân lân + 40% phân đạm + 20% phân kali; bón thúc lần 1 (khi lúa bén rễ hồi xanh): 50% phân đạm + 30% phân Kali; bón thúc lần 2 (khi lúa đứng cái) bón lượng phân còn lại.
– Phòng trừ sâu bệnh: thường xuyên kiểm tra các loại sâu bệnh, phát hiện sớm và phòng trừ kịp thời theo hướng dẫn của cơ quan Bảo vệ thực vật địa phương.